
Tiếng nói chung của nhân loại
Một giai điệu hay, một tác phẩm vượt thời gian có thể khiến hàng triệu trái tim trên toàn thế giới với những ngôn ngữ và những nền văn hoá khác nhau yêu thích, mà đôi khi không cần một lời giải thích, không cần phiên dịch. Ví như bạn không phải là fan hâm mộ của bóng đá, lại càng không phải fan của bất cứ đội bóng thuộc quốc gia nào, nhưng có một điều chắc chắn rằng, khi bài hát Un'estate Italiana" (To Be Number One) do Giorgio Moroder cùng Tom Whitlock viết và được lựa chọn là bài hát chính thức của Giải vô địch bóng đá thế giới 1990 tổ chức tại Ý với phần thể hiện của Edoardo Bennato và Gianna Nannini cũng khiến bạn không thể ngôì yên mà cũng phải rung lên theo từng nhịp một cách đầy phấn khích. Hay như bài hát “We Are the World”, nổi tiếng năm 1985 do Michael Jackson và Lionel Richie sáng tác, được thu âm bởi nhóm siêu sao USA for Africa để gây quỹ cứu trợ nạn đói ở châu Phi, nhưng đã khiến người dân toàn cầu cùng hướng về. Hay vào thời điểm những năm 2011, tình hình biển đông có những biến động khôn lường, bài hát “Tổ Quốc gọi tên mình” được nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn phổ nhạc từ bài thơ của Nguyễn Phan Quế Mai đã được lan truyền và trở nên phổ biến trên các nền tảng mạng xã hội với nhiều hình thức thể hiện khác nhau, như một lời hiệu triệu người dân ở trong và ngoài nước cùng đồng lòng gìn giữ chủ quyền quốc gia, vùng biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa và Biển Đông. Từ tác phẩm này đã khơi gợi thành một làn sóng các nhạc sĩ sáng tác hàng trăm tác phẩm về biển đảo và hình ảnh người chiến sĩ hải quân Nhân dân Việt Nam. Điều này đã có sức lan toả manh mẽ, góp phần truyền tải thông điệp về chủ quyền biển đảo và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.
Hay chỉ đơn giản, khi nghe một khúc dân ca có thể gợi lên ký ức và lòng trắc ẩn ngay cả với những người không hiểu từng câu chữ, ngữ nghĩa, thậm chí là cả những tiếng địa phương, nhưng tính dân tộc ẩn chứa trong những câu ca ấy khiến cho họ yêu thích. Đó là với âm nhạc có lời, còn với nhạc không lời thì sao? Âm nhạc giao huởng, thính phòng có một vị trí đặc biệt trong nền văn học nghệ thuật của mỗi quốc gia. Âm nhạc nói chung, nhạc thính phòng giao hưởng nói riêng được coi như một chỉ dấu quan trọng để khẳng định bản sắc văn hoá, tầm nhìn chiến lược và sự hội nhập phát triển của quốc gia ấy trước mọi biến động của đời sống xã hội.
Một bản giao hưởng có thể khiến người nghe xúc động dù họ đến từ những quốc gia chưa từng gặp gỡ; Một bản hoà tấu nhạc cụ dân tộc có thể giúp các quốc gia hiểu hơn về nền văn hoá cổ truyền của quốc gia mình đặt chân tới. Chính vì thế, trong những cuộc đàm phán, trong mọi mối quan hệ hợp tác, âm nhạc luôn có một vai trò đặc biệt “sứ giả của hoà bình” - âm nhạc kết nối và làm xoá nhoà khoảng cách về địa lý, không gian, thời gian, tạo động lực, niềm tin và sức mạnh gắn kết, lan toả.
Ở đây tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng hai tiếng “Hòa bình” không chỉ nói tới những cuộc chiến tranh trong quá khứ, mà “Hòa bình” cần phải được thấu hiểu, tôn trọng và đồng cảm giữa con người với con người, giữa các quốc gia và giữa các dân tộc trên toàn thế giới hiện nay. Và tôi tin âm nhạc chính là ngôn ngữ của sự đồng cảm, thấu hiểu ấy và cũng chỉ có âm nhạc mới làm được điều đó mà không phải ngôn ngữ của riêng quốc gia nào.
Từ chiến tranh đến khát vọng hòa bình
Lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam từ ngày khai thiên lập địa cho thấy âm nhạc luôn đồng hành cùng dân tộc. Trong bất cứ thời khắc lịch sử trọng đại nào của đất nước cũng đều có sự xuất hiện của âm nhạc. Lật dở những trang lịch sử âm nhạc Việt Nam cho thấy, từ tân nhạc thời kỳ đầu cho đến âm nhạc cách mạnh, nhạc bác học và âm nhạc đương đại… tất cả hiện diện như một cuốn biên niên sử bằng âm thanh ghi lại những thời khắc cam go và oanh liệt nhất của dân tộc để có một Việt Nam độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời cũng cho thấy vai trò của âm nhạc Việt Nam trong dòng chảy của âm nhạc toàn cầu. Điều đó được mình chứng bởi những giá trị to lớn của các loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam đã được Unesco vinh danh là Di sản văn hoá Phi vật thể của nhân loại; là những giải thưởng âm nhạc hàn lâm mà các thế hệ nhạc sĩ, nghệ sĩ Việt Nam được trao tặng trong các cuộc thi âm nhạc quốc tế.
Phải khẳng định rằng: trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập, âm nhạc là nguồn sức mạnh tinh thần cổ vũ ý chí chiến đấu, nuôi dưỡng niềm tin vào ngày mai chiến thắng. Những bài ca cách mạng đã trở thành ký ức trong trái tim, khối óc của nhiều thế hệ người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Âm nhạc dù được viết ra dưới hình thức, thể loại nào thì ít nhiều cũng góp phần hun đúc lòng yêu nước và khát vọng tự do cho mỗi người dân mang trong mình dòng máu con Lạc cháu Hồng.
Nhưng giá trị lớn lao của âm nhạc không chỉ nằm ở khí phách hay tinh thần chiến đấu, mà ẩn sâu trong cảm xúc, khơi gợi những suy tưởng của triết lý sống và nhân sinh quan trước vận mệnh và thời cuộc. Những người làm âm nhạc ở mọi thời kỳ đều hướng tới một tình thần hoà hợp, hoà giải dân tộc với khát vọng hòa bình cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân.
Mỗi dân tộc từng trải qua chiến tranh đều hiểu rằng hòa bình là giá trị vô giá. Chính vì vậy, âm nhạc Việt Nam hôm nay cần tiếp tục kể câu chuyện của lịch sử bằng tinh thần nhân văn, để thế hệ trẻ hiểu được giá trị của hòa bình và trách nhiệm gìn giữ hòa bình. Âm nhạc không khơi dậy hận thù mà giúp con người nhớ về những mất mát để biết tri ân quá khứ, trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai.

Âm nhạc - cầu nối giữa các nền văn hóa
Trong thế giới toàn cầu hóa, vai trò của âm nhạc ngày càng vượt ra ngoài phạm vi biên giới, quốc gia và vùng lãnh thổ, trở nên gần gũi với mọi người nhờ vào sự phát triển của khoa học công nghệ. Khi nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn trên các sân khấu quốc tế, hay khi các nghệ sĩ quốc tế đến Việt Nam biểu diễn cũng có thể được lan toả trực tiếp qua các kênh truyền dẫn, qua nền tảng internet trực tuyến.
Những chương trình biểu diễn giao lưu quốc tế không chỉ mang lại giá trị về ngoại giao văn hoá mà còn là cơ hội để nghệ sĩ giữa các quốc gia có thể trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, nghiệp vụ chuyên môn của từng loại hình nghệ thuật. Thông qua đó, không chỉ giúp nghệ sĩ của các quốc gia hiểu hơn về nền văn hoá, nghệ thuật của nhau mà còn gắn kết tình hữu nghị, hợp tác và phát triển những giá trị cốt lõi của văn hoá nghệ thuật trong tương lai. Mỗi chương trình hòa nhạc là một cuộc đối thoại không lời giữa các dân tộc. Mỗi tác phẩm được trình diễn là một cánh cửa mở ra thế giới với sự thấu hiểu lẫn nhau…
Ngay từ những năm 1960 chúng ta đã có những tác phẩm giao hưởng thơ được Dàn nhạc Giao hưởng ở một số nước Xã hội Chủ nghĩa lúc bấy giờ biểu diễn thu thanh, và những tác phẩm ấy cho tới hôm nay vẫn còn nguyên giá trị về tư tưởng, nghệ thuật. Chúng ta có thể điểm tên một số tác phẩm như: Giao hưởng thơ “Thành đồng Tổ quốc, của nhạc sĩ Hoàng Vân; “Người về mang tới niềm vui” của Trọng Bằng; “Tổ quốc bên bờ sóng” của Nguyễn Văn Nam; Phù Đổng; Bà Mẹ Việt Nam; Hồn Tổ quốc Việt Nam của Nguyễn Thiên Đạo (Việt kiều Pháp). Giao hưởng số 1 - "Việt Nam"; Concerto cho nhạc cụ dân tộc và dàn nhạc giao hưởng của Nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất (Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga), hay rất nhiều các tác phẩm khác của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Tấn, Đàm Linh… Âm nhạc vì thế trở thành một hình thức ngoại giao văn hóa mang sức mạnh mềm quốc gia. Cũng từ âm nhạc đã hàn gắn, chữa lành vết thương chiến tranh, xoá bỏ hận thù, xoá nhoà ranh giới, khoảng cách; mở ra nhiều cơ hội hợp tác mang lại ý nghĩa và những gía trị to lớn mang tầm quốc gia, dân tộc.
Trong một thế giới còn nhiều xung đột, những cuộc gặp gỡ thông qua nghệ thuật đang ngày càng góp phần xây dựng lòng tin giữa con người với con người. Và mọi nền hòa bình bền vững đều bắt đầu từ lòng tin ấy. Và phải khẳng định một điều chắc chắn rằng, “Hòa bình” không chỉ được xây dựng bằng những hiệp định hay những cam kết quốc tế mà còn được vun đắp từ việc gìn giữ bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Những làn điệu quan họ, ca trù, chèo, hát xẩm, chầu văn hay những khúc hát ru truyền thống chứa đựng trong đó triết lý nhân văn của người Việt qua nhiều thế hệ. Đó là tinh thần trọng nghĩa tình, yêu thương con người, đề cao sự hòa hợp với thiên nhiên và cộng đồng. Chỉ khi dân tộc ấy biết trân trọng di sản văn hóa của mình, dân tộc ấy sẽ có nền tảng tinh thần vững chắc để hội nhập mà không đánh mất bản sắc. Âm nhạc truyền thống không chỉ là ký ức văn hóa mà còn là nền tảng nuôi dưỡng và phát triển trong nhiều loại hình nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, mang lại nguồn năng lượng tích cực cho sự phát triển hội nhập và xây dựng nền văn hóa hòa bình.
Âm nhạc - khát vọng hòa bình trong thời đại mới
Trong bối cảnh địa chính trị thế giới hiện nay, âm nhạc không còn chỉ là hoạt động sáng tạo nghệ thuật đơn thuần ở mỗi quốc gia, dân tộc mà đã trở thành một phần thật sự quan trọng của ngoại giao văn hoá và phát triển công nghiệp văn hóa.
Chúng ta không còn xa lạ với việc nguyên thủ của nhiều quốc gia trên thế giới có thể chơi được một loại nhạc cụ nào đó và sẵn sàng giao lưu cùng các nghệ sĩ trong những chuyến thăm cấp Nhà nước. Các Liên hoan âm nhạc; Lễ hội nghệ thuật; Chương trình giao lưu quốc tế hay các Nhà hát hiện đại đang tạo nên những không gian mới để nghệ sĩ mở rộng hoạt động biểu diễn, tiệm cận ngày càng rộng và gần hơn với công chúng trên toàn cầu. Đồng thời, công chúng cũng có điều kiện gặp gỡ, kết nối và chia sẻ những giá trị và hiểu biết nhất định về những loại hình nghệ thuật hàn lâm.
Từ những năm đổi mới đất nước 1986, Việt Nam đã có những thay đổi tích cực trên nhiều mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến Nghị quyết 23, Nghị quyết 33 và gần đây là Nghị quyết 80, Đảng ta đều coi văn học nghệ thuật là phương tiện quan trọng để: Bồi dưỡng lòng yêu nước; Giáo dục lý tưởng, đạo đức và nhân cách; Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc; Phản ánh những vấn đề lớn của đất nước như chủ quyền biển đảo, lịch sử, truyền thống dân tộc.

Đặc biệt, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị (2026) ra đời không chỉ làm nổi bật tầm nhìn và sức mạnh nội sinh của văn hoá nghệ thuật mà là đòn bẩy quan trọng để giới văn học nghệ thuật nói riêng, cả nước nói chung có cái nhìn rộng mở và có những hướng đi thích hợp với rất nhiều tiêu chí được đặt ra. Ở đây, Văn hóa được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị, quốc phòng, đối ngoại và trở thành sức mạnh mềm quốc gia. Nghị quyết cũng khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam là trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa”, bởi chỉ khi phát triển con người toàn diện về đức - trí - thể - mỹ; Chú trọng đạo đức, lối sống, bản lĩnh, khát vọng phát triển đất nước, chúng ta. mới có thể xây dựng được một nền văn hoá xứng tầm. Muốn làm được điều ấy thì việc “Đưa văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống”, không chỉ của riêng ngành văn hoá mà cần sự chung sức của cả hệ thống chính trị kinh tế, giáo dục, khoa học, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Bởi, “Phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo” được xem là một nguồn lực kinh tế. Chỉ khi chúng ta biết tập hợp, biết đoàn kết và gắn kết thì mới có thể đưa những sản phẩm văn hoá trở thành di sản và những di sản ấy được số hoá và thông qua các ứng dụng công nghệ cao để tạo sản phẩm văn hoá có gía trị về kinh tế, thu hút kinh tế số từ các sản phẩm văn hoá. Những điều này cho thấy, Bộ Chính trị đã đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia, coi văn hóa và con người là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Điều này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần, giảm khoảng cách văn hóa giữa các cộng đồng dân cư và tăng cường sự gắn kết xã hội.
Khi những đứa trẻ ở những quốc gia khác nhau có thể cùng hát một bài ca, cùng hòa nhịp trong một dàn hợp xướng, khi những nghệ sĩ đến từ những nền văn hóa khác nhau có thể cùng đứng trên một sân khấu, thì hòa bình không còn là khái niệm chính trị mà trở thành cảm xúc của con người. Và âm nhạc chính là cây cầu bền vững nối những nên văn hoá xích lại gần nhau.
Ngày nay, thế giới đang đứng trước nhiều thách thức như xung đột khu vực, biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội và những khoảng cách ngày càng lớn giữa các nền văn hóa. Trong bối cảnh ấy, thông điệp hòa bình của âm nhạc càng trở nên cần thiết để xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, phát huy các giá trị hòa bình, đoàn kết, nhân ái và hội nhập quốc tế.
Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo cái đẹp mà còn là người góp phần lan tỏa những giá trị nhân văn, đánh thức lòng nhân ái, khơi dậy sự đồng cảm và hướng con người tới những điều tốt đẹp. Và khi trái tim con người biết rung động trước cái đẹp, biết sẻ chia với nỗi đau của người khác, biết tôn trọng sự khác biệt và hướng tới những giá trị chung, đó chính là nền tảng sâu xa nhất của hòa bình.
Đội ngũ văn nghệ sĩ ngày nay đang được tạo điều kiện để phát huy tài năng, đóng góp vào việc xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc và quảng bá hình ảnh Việt Nam yêu chuộng hòa bình tới bạn bè quốc tế. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 80-NQ/TW, âm nhạc Việt Nam có thêm điều kiện để phát triển mạnh mẽ, trở thành cầu nối văn hóa giữa Việt Nam và thế giới, góp phần nuôi dưỡng khát vọng hòa bình, thịnh vượng và phát triển bền vững cho nhân loại.